Mỗi lần thấy tôi như vậy, Tư Uyên đều lộ ra cái biểu cảm ấy: khóe môi hơi trễ xuống, giữa hai đầu lông mày hằn lên hai vệt nhăn mờ, trông hệt như một con mèo Ragdoll đang cảm thấy bị xúc phạm.

Sau đó, anh sẽ lặng lẽ rút cục tẩy trong hộp bút của mình đưa qua cho tôi, rồi dùng cái giọng “tôi thất vọng về cậu lắm” mà nói: “Thẩm Dữ, cậu có thể sống ngăn nắp một chút được không?”

“Cậu bớt quản tôi đi được không?”

“Cậu ngồi cạnh tôi, sự bừa bãi của cậu làm ảnh hưởng đến hiệu suất học tập của tôi.”

Nghe xem, đây là lời mà một đứa học sinh tiểu học có thể thốt ra được đấy à?

Lên cấp hai, hai đứa vẫn học chung trường. Tư Uyên là Chủ tịch Hội học sinh, còn tôi là khách quen của phòng giám thị.

Sáng thứ Hai làm lễ chào cờ, anh đứng trên bục đọc diễn văn, tôi đứng phạt ở phía dưới.

Lúc đi ngang qua chỗ tôi, bước chân anh khựng lại một nhịp, hạ thấp giọng nói: “Lại đánh nhau à?”

“Cần cậu quản chắc.”

Anh liếc tôi một cái rồi đi thẳng. Bóng lưng thẳng tắp như một cây tùng di động.

Lúc đó tôi chỉ nghĩ người này phiền phức chết đi được, chẳng hề nhận ra sau đó anh đã nhờ người mang băng cá nhân và cồn đỏ đến cho tôi.

Lên đại học, mọi chuyện bắt đầu trở nên phức tạp.

Tư Uyên trổ mã hoàn toàn. Chiều cao một mét tám mươi bảy, bờ vai rộng hơn hẳn hồi cấp ba, đường nét gương mặt góc cạnh toát lên vẻ lạnh lùng sắc sảo.

Cộng thêm thành tích đứng đầu khóa cùng bối cảnh gia thế hiển hách, người theo đuổi anh xếp hàng dài từ tòa giảng đường đến tận nhà ăn.

Còn anh thì sao? Lúc nào cũng trưng ra cái bộ mặt người lạ chớ gần, y hệt một tảng băng trôi biết đi.

Còn tôi lại là một trường phái hoàn toàn khác. Nhan sắc của tôi cũng chẳng kém cạnh ai, cao một mét tám mươi ba, nhờ quanh năm chơi bóng rổ nên vóc dáng vô cùng săn chắc, hút mắt.

Bốn năm đại học, số người tôi hẹn hò không dưới mười người, mà mối nào cũng chưa từng kéo dài quá một tháng.

Hôm nay đi xem phim với đàn em khóa dưới, ngày mai đi dạo sân vận động với đàn chị khoa bên, ngày kia lại chuyền mảnh giấy nhỏ cho cô em trong câu lạc bộ.

Trong trường bắt đầu râm ran lời đồn, bảo Thẩm Dữ tôi là kẻ không có trái tim, ai yêu đương với tôi cũng chẳng thể trụ quá ba mươi ngày.

Khi lời đồn này lọt đến tai Tư Uyên, anh đang ngồi tự học trong thư viện.

Theo lời bạn học có mặt lúc đó kể lại, Tư Uyên nghe xong im lặng rất lâu, sau đó đặt bút xuống, buông một câu: “Tùy cậu ta.”

Kể từ dạo đó, thái độ của Tư Uyên đối với tôi hoàn toàn thay đổi. Trước kia anh còn chịu quản tôi, còn nhíu mày mắng tôi lông bông, còn nhờ người đưa thuốc mỗi khi tôi đánh nhau bị thương.

Nhưng sau chuyện ấy, cách anh đối xử với tôi chỉ còn lại sự khách sáo lạnh lùng băng giá, giống như đối đãi với một đứa con nít nhà họ hàng chẳng mấy thân thiết.

Lúc đó tôi không hiểu vì sao. Rất nhiều năm sau tôi cũng không hiểu.

Tôi chỉ biết hình như Tư Uyên đã có người trong lòng. Mùa đông năm tốt nghiệp đại học, hai nhà tụ họp ăn uống, tôi bắt gặp anh đứng ở hành lang khách sạn, trong tay nắm chặt một phong thư, nét mặt vô cùng phức tạp.

Từ đằng xa, tôi nhìn thấy chiếc phong bì màu xanh nhạt, bên trên hình như có vẽ họa tiết gì đó. Anh đứng chôn chân ở đấy rất lâu, cuối cùng gấp bức thư lại nhét vào túi áo rồi quay lưng rời đi.

Tôi tựa lưng vào bức tường ở đầu bên kia hành lang, vốn định bước ra ngoài hít thở chút không khí, chẳng ngờ trong lòng lại càng thêm ngột ngạt, bức bối.

Về sau, tôi càng đổi người yêu thường xuyên hơn như một cách trả đũa. Ánh mắt Tư Uyên nhìn tôi ngày một lạnh tanh, độ cong nơi khóe môi từ chê bai ghét bỏ biến thành một thứ cảm xúc mà tôi không thể gọi tên.

Những cuộc cãi vã giữa hai đứa cũng từ những trò đấu khẩu con nít nâng cấp thành những màn tranh chấp chực trào gai nhọn thực sự.

Có một lần trong bữa tiệc hai nhà, anh nói thẳng trước mặt tất cả mọi người rằng tôi “phóng túng buông thả, chẳng ra thể thống gì”.

Tôi đứng bật dậy nhìn thẳng vào mắt anh, đáp trả rằng anh “cổ hủ nhạt nhẽo, sống chẳng khác gì một cỗ máy”.

Bữa cơm hôm đó khiến người lớn hai nhà nhìn nhau sượng sùng, sau đó mẹ hỏi có phải tôi có thù oán gì với Tư Uyên không.

Tôi bảo: “Mẹ à, giờ mẹ mới nhận ra đấy à.”

Cho nên khi hai nhà đề xuất chuyện liên hôn, ai nấy đều chắc mẩm hai đứa chúng tôi sẽ chỉ thẳng tay vào mũi nhau mà gào lên: “Nằm mơ đi.”

Thế nhưng Tư Uyên lại là người đồng ý trước.

Khi tin tức này truyền đến tai, tôi đang ngồi uống rượu với đám bạn ở quán bar.

Thằng bạn cầm thiệp cưới điện tử trên điện thoại, vẻ mặt kinh hoàng tột độ nhìn tôi:

“Tư Uyên này với Thẩm Dữ này… có phải hai người tao biết không đấy?”

Ly rượu trên tay tôi suýt chút nữa thì tuột khỏi kẽ tay.

“Anh ta điên rồi à?” Tôi hỏi.

“Tao cũng thấy nó điên thật rồi,” thằng bạn lộ vẻ mặt như táo bón, “Hai đứa mày kết hôn, đêm tân hôn không đánh nhau sứt đầu mẻ trán đấy chứ?”

Tôi không trả lời. Đầu óc tôi rối như một mớ bòng bong. Tư Uyên và tôi á? Là cái tên Tư Uyên đó sao? Cái người nhìn tôi như nhìn cọng cỏ dại ven đường ấy ư? Anh ta nhắm vào cái gì chứ? Thật sự muốn liên hôn thì cũng đâu tới lượt tôi.

Nhưng ma xui quỷ khiến thế nào, tôi cũng gật đầu đồng ý.

Ngày cưới là ngày tôi chứng kiến khả năng quản lý biểu cảm thất bại nhất của Tư Uyên.

Anh đứng trên lễ đài trong bộ âu phục đen tuyền, trước ngực cài hoa đỏ, cả người cứng đờ như một sợi dây thép bị người ta dùng sức uốn thẳng.

Lúc người chủ trì bảo anh đọc lời thề nguyện, anh đọc vấp lên vấp xuống, khác một trời một vực so với cái vẻ trôi chảy lưu loát lúc họp hành báo cáo thường ngày.

Tôi đứng đối diện anh, mặc một bộ âu phục màu trắng.

Vì hôn lễ này mà lần đầu tiên tôi phá lệ không giở trò quậy phá gì, ngoan ngoãn đi làm tóc, thậm chí còn đến trước giờ hẹn hẳn hai mươi phút.

Mẹ tôi cảm động đến rơm rớm nước mắt, bảo cuối cùng tôi cũng biết nghĩ rồi.

Thực ra tôi chỉ muốn xem rốt cuộc Tư Uyên đang giở trò quỷ gì thôi.

Scroll Up