“Cậu yên tâm. Tôi sẽ không gõ cửa, cũng không đi vào. Tôi chỉ ngồi xổm ngoài cửa, ở bên cậu.”
28
Ngày hôm sau, tôi không thể đi được.
Bởi vì buổi sáng, hàng xóm gõ cửa phòng tôi, nói Kỳ Diệc An đã ngồi xổm trước cửa nhà tôi cả đêm, sốt cao rồi ngất đi.
Tôi hoảng hốt đưa anh đến bệnh viện, cũng bỏ lỡ giờ lên máy bay.
Anh sốt cao bốn mươi độ, viêm phổi cấp tính.
Tôi vừa tức vừa sốt ruột.
Sau đó, dì Lương chạy tới, nghe được đầu đuôi sự việc thì tức giận mắng Kỳ Diệc An không ngừng.
Dì còn bảo tôi mau chóng lên máy bay rời đi.
“Với cái tính của thằng nhóc này, tỉnh lại biết cháu không đi, chắc chắn sẽ biết cháu quan tâm đến nó, sau này nó sẽ càng quấn lấy cháu không biết kiêng dè.
“Cháu nên cho nó một bài học, để nó nếm chút đau khổ.”
Vì vậy, dưới sự ủng hộ của dì Lương và chú Kỳ, tôi đổi sang chuyến bay tiếp theo.
Ngày hôm sau, tôi hạ cánh xuống Pháp.
Vừa mở điện thoại, bên trong đã tràn ngập tin nhắn.
Tin nhắn của Kỳ Diệc An là nhiều nhất.
Bắt đầu từ sáu giờ sáng, cứ cách nửa tiếng lại có một tin.
“Diệp Hoài, tôi tỉnh rồi.”
“Y tá nói cậu đi rồi?”
“Cậu đi đâu vậy?”
“Mẹ tôi nói cậu đổi chuyến bay rồi?”
“Cậu thật sự đi rồi sao?”
“Diệp Hoài, trả lời tôi một chút.”
“Tôi biết sai rồi.”
“Cậu đến thành phố nào?”
“Tôi sẽ đi tìm cậu.”
“Diệp Hoài, để ý đến tôi đi.”
Phía sau còn có mấy chục tin nhắn nữa.
Tôi không trả lời.
Tắt khung trò chuyện, tôi kéo xuống dưới.
Tin nhắn của dì Lương:
“Tiểu Hoài, đến nơi chưa? Thằng nhóc này tỉnh rồi, đang làm loạn trong phòng bệnh, bị dì mắng cho một trận. Cháu đừng để ý đến nó, nên làm gì thì cứ làm.”
Tin nhắn của chú Kỳ:
“Đến nơi thì báo bình an cho gia đình. Thằng nhóc này có chú trông chừng, không gây được sóng gió gì đâu.”
Tôi trả lời tin nhắn cho họ.
29
Những ngày sau đó, nói nhanh cũng nhanh, nói chậm cũng chậm.
Tôi ổn định cuộc sống ở Paris, vừa học ngôn ngữ, vừa chuẩn bị hồ sơ tác phẩm để nhập học.
Ngày nào cũng rất bận.
Bận đến mức không có thời gian nghĩ đến những chuyện rối ren ấy.
Nhưng điện thoại vẫn luôn vang lên.
Tin nhắn của Kỳ Diệc An chưa từng gián đoạn dù chỉ một ngày.
“Diệp Hoài, hôm nay tôi xuất viện rồi.”
“Diệp Hoài, tôi tới công ty rồi, có cả đống chuyện hỗn loạn cần xử lý.”
“Diệp Hoài, hôm nay lúc ăn cơm tôi nhớ tới cậu, trước đây cậu luôn giành thịt trong bát của tôi.”
Sau đó là tin nhắn thoại.
Giọng nói nặng nề, mang theo chút dè dặt.
“Diệp Hoài, hôm nay tăng ca đến rất muộn, mệt chết đi được.”
“Diệp Hoài, bên đó có lạnh không? Tôi xem dự báo thời tiết nói Paris hạ nhiệt rồi.”
“Diệp Hoài, tôi đã tìm hiểu khu vực cậu đang ở, gần đó có một nhà hàng Trung Quốc được đánh giá khá cao, cậu đã tới ăn chưa?”
“Diệp Hoài, Vương Thừa Đức đã bị tôi đưa vào tù, những người bắt nạt cậu, tôi không bỏ qua một ai.”
Sau đó nữa là hình ảnh.
Một bức ảnh khuôn viên trường cấp ba.
Một bức ảnh hoàng hôn, trên bàn làm việc chất đầy tài liệu cao như núi.
Một bức ảnh tự chụp mờ mờ.
Tôi không trả lời bất kỳ tin nào.
Nhưng anh vẫn gửi.
Giống như điểm danh, không bỏ sót một ngày.
30
Những ngày sau đó cứ trôi qua như vậy.
Anh ở trong nước, tôi ở Paris.
Ngày nào anh cũng gửi tin nhắn, thỉnh thoảng tôi sẽ trả lời.
Có lúc trả lời nhiều, có lúc trả lời ít.
Mùa đông năm ấy, tôi nhận được một kiện hàng quốc tế.
Mở ra nhìn, bên trong chất đầy đồ ăn.
Sườn kho đóng gói hút chân không, lẩu tự làm nóng, đủ loại đồ ăn vặt, còn có một hộp sủi cảo gói thủ công.
Phía trên cùng đặt một tờ giấy.
“Diệp Hoài, đây là sủi cảo tôi gói. Mẹ tôi nói nhân cũng được, vỏ hơi dày. Cậu ăn tạm nhé. Đồ ăn vặt là do tôi chọn, không biết cậu có thích hay không. Cứ ăn trước đi, ăn hết tôi lại gửi.”
Tôi nhìn tờ giấy ấy rất lâu.
Buổi tối, tôi nấu một bát sủi cảo.
Vỏ quả thật hơi dày.
Nhưng nhân rất ngon.
Mùa xuân năm thứ hai, tôi nhận được thư mời nhập học của học viện thiết kế.
Hôm ấy trời nắng rất đẹp, tôi đứng trước cổng trường chụp một bức ảnh đăng lên trang cá nhân.
Nội dung:
“Được nhận rồi.”
Điện thoại của anh lập tức gọi tới, giọng nói còn vui mừng hơn cả tôi.
“Diệp Hoài! Cậu giỏi quá! Tôi biết ngay cậu nhất định làm được!”
“Anh vui mừng cái gì?”
“Cậu được nhận, đương nhiên tôi phải vui rồi.”
“Có phải anh được nhận đâu.”
Anh dừng lại một chút, giọng nói đột nhiên nhỏ xuống.
“Nhưng cậu là người tôi thích.”
Tôi cầm điện thoại, đứng dưới ánh mặt trời.
Gió xuân thổi lên mặt, hơi ngứa ngáy.
Tôi “ồ” một tiếng, sau đó cúp điện thoại.
35
Mùa thu năm thứ ba, Paris đón cơn mưa đầu tiên.
Hôm đó, tôi đang ở phòng vẽ gấp rút hoàn thành bản thảo thiết kế tốt nghiệp, tiếng mưa tí tách bên ngoài cửa sổ hòa cùng tiếng ù ù của máy pha cà phê, trong phòng vẽ chỉ có một mình tôi.
Điện thoại rung lên một cái.
Tin nhắn của Kỳ Diệc An:
“Đang làm gì?”
Tôi trả lời:
“Vẽ bản thảo.”
Anh lập tức trả lời:
“Ở phòng vẽ?”
“Ừ.”
“Chỉ có một mình cậu?”
“Ừ.”
“Vậy thì vừa hay.”
Tôi nhìn chằm chằm màn hình, không hiểu anh có ý gì.
Mười phút sau, cửa phòng vẽ bị người ta đẩy ra.
Tôi ngẩng đầu, nhìn thấy một người ướt sũng đứng ở cửa.

